Liên kết website
Bản đồ hành chính
ban do bac ho Cổng thông tin điện tửTỉnh Khánh HòaCổng thông tin điện tử tỉnh Khánh HòaCổng thông tin điện tử chính phủHệ thống vb pháp luậtTruong xa
Thống kê truy cập
CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH

HỎI ĐÁP CHÍNH SÁCH COVID


HỎI ĐÁP CHÍNH SÁCH COVID

I. NHÓM CÂU HỎI CHUNG

  Câu 1. Nguyên tắc hỗ trợ
Trường hợp người lao động đã hưởng chính sách hỗ trợ ở mức thấp, sau đó đủ điều hưởng ở mức cao hơn trong cùng chính sách hoặc trường hợp người lao động đã hưởng chính sách hỗ trợ có mức hỗ trợ thấp, sau đó đủ điều kiện có hưởng chính sách hỗ trợ có mức hỗ trợ cao hơn, vậy những trường hợp đã nêu có được hỗ trợ bổ sung phần chênh lệnh không?

Trả lời:
Nghị quyết 68 và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định nguyên tắc: Mỗi đối tượng chỉ được hưởng một lần trong một chính sách hỗ trợ.
Một số trường hợp đặc biệt, không trái với nguyên tắc nêu trên như sau:
- Trường hợp người lao động đã hưởng chính sách hỗ trợ ở mức thấp, sau đó đủ điều hưởng ở mức cao hơn trong cùng chính sách thì bổ sung thêm hồ sơ để được hỗ trợ bổ sung phần chệnh lệch.
- Trường hợp người lao động đã hưởng chính sách hỗ trợ có mức hỗ trợ thấp, sau đó đủ điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ có mức hỗ trợ cao hơn thì nộp hồ sơ đề nghị hưởng chính sách hỗ trợ có mức hỗ trợ cao hơn để được hỗ trợ bổ sung phần chênh lệnh.

Câu 2. Thế nào là trường hợp NSDLĐ phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền? Tạm dừng 1 vị trí công việc hay tạm dừng một phần hoạt động hay tạm dừng toàn bộ hoạt động? (để được hưởng theo quy định tại Điều 13, Khoản 2 Điều 38 Quyết định 23/2021/QĐ-TTg)
Trả lời:
Quyết định 23/2021/QĐ-TTg không quy định NSDLĐ phải tạm dừng toàn bộ hoạt động. Do vậy, NSDLĐ phải tạm dừng 1 vị trí công việc, tạm dừng một phần hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước đều được coi là tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trên cơ sở đó, đối chiếu thêm các điều kiện khác để xem xét có đủ điều kiện hỗ trợ không.

Câu 3. Theo quy định doanh nghiệp được phép hoạt động khi đáp ứng một trong hai điều kiện: doanh nghiệp đảm bảo thực hiện được vừa sản xuất, vừa cách ly người lao động tại chỗ với phương châm “3 tại chỗ” gồm sản xuất tại chỗ - ăn tại chỗ - nghỉ ngơi tại chỗ hoặc doanh nghiệp đảm bảo thực hiện được phương châm “1 cung đường - 2 địa điểm”, chỉ duy nhất 1 cung đường vận chuyển tập trung công nhân từ nơi sản xuất đến nơi ở của công nhân (có thể chọn ký túc xá, khách sạn, chỗ ở tập trung cho công nhân), vậy những doanh nghiệp không hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian này có được xem là phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 hay không?
Trả lời:
Với những địa phương có quy định “doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động khi đáp ứng một trong hai điều kiện: doanh nghiệp đảm bảo thực hiện được vừa sản xuất, vừa cách ly người lao động tại chỗ với phương châm “3 tại chỗ” gồm sản xuất tại chỗ - ăn tại chỗ - nghỉ ngơi tại chỗ hoặc doanh nghiệp đảm bảo thực hiện được phương châm 1 cung đường - 2 địa điểm” thì những doanh nghiệp không hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian này được xem là phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19.

Câu 4. Đối với doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo những phương châm “3 tại chỗ” hoặc “1 cung đường - 2 địa điểm” nhưng người lao động không đồng ý làm việc theo yêu cầu doanh nghiệp vì những lý do: hoàn cảnh khó khăn, gia đình cần người chăm sóc hoặc cho rằng không đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc...thì những trường hợp này doanh nghiệp phải thực hiện chính sách pháp luật lao động như thế nào?
Trả lời:
Đối với doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo những phương châm “3 tại chỗ” hoặc “1 cung đường - 2 địa điểm” thì hai bên NLĐ và NSDLĐ thống nhất để xác định theo một trong các cách sau:
- Thống nhất với người lao động tạm hoãn HĐLĐ theo điểm h Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động hoặc hai bên thỏa thuận nghỉ không hưởng lương theo Khoản 3 Điều 115 BLLĐ. Trường hợp này, người lao động thuộc diện được hỗ trợ chính sách tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận nghỉ không lương theo theo quy định tại chương IV (Điều 13 đến Điều 16) của QĐ 23.
- NSDLĐ cho người lao động ngừng việc và trả lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động. Trong trường hợp này, người lao động có thể được hỗ trợ chính sách ngừng việc khi đáp ứng đủ các điều kiện theo chương V (Điều 17 đến Điều 20) của QĐ 23.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật lao động, như: thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ theo Khoản 3 Điều 34 BLLĐ; thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ theo điểm c Khoản 1 Điều 36 BLLĐ;...

Câu 5. Người lao động làm việc cho người sử dụng lao động nhưng các đơn vị không thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng pháp luật lao động (không ký hợp đồng lao động, không tham gia bảo hiểm xã hội…) sẽ không thỏa mãn điều kiện đễ thụ hưởng các chính sách theo quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, vậy địa phương dự kiến đưa những đối tượng này vào chính sách số 12 của Nghị quyết 68/NQ-CP (một số đối tượng đặc thù khác) để thực hiện hỗ trợ có được không? Hay trách nhiệm hỗ trợ này thuộc người sử dụng lao động?
Trả lời:
Nhóm đối tượng người lao động làm việc cho người sử dụng lao động nhưng các đơn vị không thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng pháp luật lao động (không ký hợp đồng lao động, không tham gia bảo hiểm xã hội…) có thể được đưa vào chính sách số 12 của Nghị quyết 68/NĐ-CP (một số đối tượng đặc thù khác) để thực hiện hỗ trợ. Các địa phương quy định cụ thể dối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ với nhóm đối tượng này, nhằm tháo gỡ khó khăn cho người lao động.

 

  II. NHÓM CÂU HỎI VỀ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG – BỆNH NGHỀ NGHIỆP

 

  Câu 1. Đề nghị hướng dẫn về các nội dung được sử dụng đối với số tiền có được từ việc giảm đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động phòng, chống COVID-19, cụ thể như thế nào? Người sử dụng lao động có thể phát tiền mặt cho người lao động hay không?
Trả lời:
QĐ số 23/2021/QĐ-TTg không quy định cụ thể về các nội dung chi, chỉ quy định nguyên tắc chung là hỗ trợ toàn bộ số tiền có được từ việc giảm đóng vào quỹ BH TNLĐ, BNN cho NLĐ phòng chống dịch Covid. Vì vậy, NSDLĐ chủ động quyết định nội dung chi hợp pháp để hỗ trợ cho người lao động phòng chống Covid-19 (chẳng hạn như: hỗ trợ bằng tiền cho người lao động; trả phí test nhanh covid cho người lao động; mua dụng cụ, phương tiện phòng chống dịch như khẩu trang, tấm chắn, dung dịch sát khuẩn…;) trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Khoản 2 Mục I Nghị quyết số 68/NQ-CP.
Trường hợp NSDLĐ hỗ trợ bằng tiền cho NLĐ thì có thể tham khảo các hình thức sau: hỗ trợ hằng tháng cho từng người lao động, tương ứng với số tiền giảm đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của chính người lao động đó; hỗ trợ đồng đều (với mức như nhau) trong tháng cho tất cả người lao động, dựa trên tổng số tiền giảm đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của tất cả người lao động...; nhưng phải tuân thủ nguyên tắc quy định tại Điểm c Khoản 2 Mục I Nghị quyết số 68/NQ-CP
Tóm lại, DN có quyền quyết định mức chi, nội dung chi, miễn là phòng chống dịch Covid cho NLĐ.

 

Câu 2: Mục tiêu và lợi ích của người sử dụng lao động và người lao động khi thực hiện chính sách giảm mức đóng của người sử dụng lao động vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN?
Trả lời:
Chính sách này được xây dựng nhằm mục tiêu hỗ trợ, góp phần giảm bớt khó khăn người sử dụng lao động và người lao động trước tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro, nhưng vẫn bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN.
Đối tượng hướng tới của chính sách là toàn bộ người sử dụng lao động và người lao động đang áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (trừ cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, người lao động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách nhà nước).
Theo quy định pháp luật hiện hành, người sử dụng lao động đang đóng cho người lao động vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với mức từ 0,3% - 0,5 % quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Như vậy, khi áp dụng chính sách, giảm mức đóng về 0 đồng, trong 12 tháng (từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2022), ước tính người sử dụng lao động có thêm tổng số khoảng trên 3,7 ngàn tỷ đồng để hỗ trợ cho người lao động phòng, chống COVID-19.

 

Câu 3: Thủ tục thực hiện chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghiệp theo Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg có đơn giản không? Trong thời gian thực hiện chính sách này (mức đóng bằng 0 đồng), thì người lao động nếu bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có bị mất chế độ không? Hay được giữ nguyên như quy định hiện hành?
Trả lời:
Chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghiệp theo Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không phát sinh thêm bất kỳ thủ tục hành chính nào. Người sử dụng lao động vẫn thực hiện đăng ký tham gia và đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành, nhưng áp dụng mức đóng bằng 0 đồng.
Thời gian đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo chính sách này (từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2022) vẫn được tính hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Mọi chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời gian này vẫn được bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

 

Câu 4: Những doanh nghiệp gặp khó khăn phải giảm dần số lượng lao động qua các tháng, vậy có được miễn đóng bảo hiểm tại nạn và bệnh nghề nghiệp không?
Trả lời:

Theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, tất cả các doanh nghiệp đều được áp dụng chính sách giảm đóng (tức là áp dụng mức đóng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội) vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không có thêm quy định điều kiện nào khác.
Vì vậy, với doanh nghiệp gặp khó khăn phải giảm dần số lượng lao động qua các tháng, dù có ít lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì vẫn được áp dụng chính sách này.

 

Câu 5: Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có được áp dụng chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghiệp theo Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 1 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì đối tượng được hưởng chính sách này là toàn bộ người lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (trừ cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhận dân, người lao động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước).
Do vậy, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (đang áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật An toàn vệ sinh lao động) thuộc đối tượng áp dụng của chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghiệp theo Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

 

  III. NHÓM CÂU HỎI VỀ CHÍNH SÁCH TẠM HOÃN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG, THỎA THUẬN NGHỈ KHÔNG HƯỞNG LƯƠNG

 

  Câu 1: Đối với nội dung thoả thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương: doanh nghiệp có được lập danh sách người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương, trong đó đại diện người sử dụng lao động và bên đại diện người lao động cùng ký (ký xác nhận) vào văn bản thoả thuận đó có phù hợp về mặt pháp lý hay không?
Trả lời:

  Đang trình Lãnh đạo Bộ dự thảo Công văn hướng dẫn trường hợp này:
Thành phần hồ sơ đề nghị hỗ trợ đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện như sau:
- Trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có văn bản thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương thì sử dụng văn bản thỏa thuận đó;
- Trường hợp do dịch bệnh hoặc nguyên nhân bất khả kháng không thể thỏa thuận bằng văn bản, hai bên người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận bằng các hình thức khác (qua điện thoại, tin nhắn, thư điện tử,…). Khi có sự thống nhất thỏa thuận về việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương giữa hai bên thì người sử dụng lao động ghi rõ cách thức thỏa thuận này vào cột ghi chú của Mẫu số 05 ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung thỏa thuận.

 

  IV. NHÓM CÂU HỎI VỀ CHÍNH SÁCH NGỪNG VIỆC

 

  Câu 1. Đối với chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc theo NQ 68 và QĐ 23, việc chi hỗ trợ người lao động ngừng việc có được chuyển tiền trực tiếp cho người lao động không (không thông qua NSDLĐ)?
Nếu được, đề nghị điều chỉnh, bổ sung cột tài khoản của người lao động nhận hỗ trợ (tên tài khoản, số tài khoản, tên Ngân hàng) biểu mẫu số 06, cụ thể bổ sung cột thông tin số tài khoản người lao động (đối với người lao động không có số tài khoản thì doanh nghiệp thực hiện chi trả).
Trả lời:
Đây là vấn đề tổ chức thực hiện QĐ 23/2021/QĐ-TTg. Nếu NSDLĐ và cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương cùng đồng thuận việc chuyển tiền trực tiếp cho NLĐ thì hoàn toàn có thể thực hiện được, không trái quy định của pháp luật. Cụ thể:
Biểu mẫu số 6 ban hành kèm theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg bao gồm các thông tin bắt buộc mà NSDLĐ phải thực hiện. Việc bổ sung thêm các thông tin khác (ngoài các thông tin bắt buộc theo Mẫu số 6) có thể được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của NSDLĐ.
Trong trường hợp NSDLĐ có nhu cầu tự nguyện chuyển tiền trực tiếp cho từng NLĐ theo danh sách thì NSDLĐ có thể bổ sung thêm cột tài khoản của người lao động nhận hỗ trợ (tên tài khoản, số tài khoản, tên Ngân hàng) trong biểu mẫu số 06 ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ chuyển tiền trực tiếp cho NLĐ. Trong trường hợp này, nếu các cơ quan tại địa phương đồng thuận với đề nghị của NSDLĐ thì việc chuyển tiền trực tiếp cho NLĐ hoàn toàn có thể thực hiện được, không trái quy định của pháp luật.

 

  V. NHÓM CÂU HỎI VỀ F0, F1

 

  Câu 1. Trường hợp đối tượng là F1 đang thực hiện cách ly y tế (đã thực hiện cách ly được một số ngày) thì phát hiện bị dương tính - nhiễm Covid-19. Như vậy, đối tượng chuyển từ F1 thành F0 và phải tập trung điều trị nhiễm Covid-19 thì có được hưởng đồng thời cả 2 chế độ F1 và F0 không?
Trả lời:
Trường hợp này, đối tượng được hưởng hỗ tiền ăn mức 80.000 đồng/người/ngày trong thời gian thực hiện cách ly y tế thực tế (tối đa không quá 21 ngày) và thời gian điều trị thực tế (tối đa không quá 45 ngày).

Câu 2. Trường hợp đối tượng F0 đã điều trị khỏi và được ra viện, nhưng sau đó lại bị tái dương tính; theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đối tượng tiếp tục phải cách ly y tế. Như vậy, trường hợp này, đối tượng có được tiếp tục hưởng hỗ trợ tiền ăn trong thời gian cách ly y tế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không?
Trả lời:
Trường hợp này, đối tượng được hưởng hỗ trợ tiền ăn mức 80.000 đồng/người/ngày trong thời gian thực hiện cách ly y tế thực tế (tối đa không quá 21 ngày)????

Câu 3. Trong thời gian từ ngày 27/4/2021 đến ngày 07/7/2021 (thời điểm ban hành Quyết định số 23/2021/QĐ-TT ngày 07/7/2021) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã có hàng chục ngàn đối tượng thuộc diện F0, F1 đã thực hiện điều trị nhiễm Covid-19 hoặc cách ly y tế xong. Tuy nhiên, do người lao động chưa có tiền để nộp tiền ăn theo quy định và nhiều nguyên nhân khác nên các cơ sở điều trị, cơ sở cách ly y tế tập trung chưa thu được tiền ăn của đối tượng. Số chi phí này các cơ sở điều trị, cơ sở cách ly y tế tập trung hiện vẫn chưa có nguồn để thực hiện thanh quyết toán chi phí. Đề nghị hướng dẫn thực hiện
Trả lời:
Trường hợp này, cho phép các cơ sở điều trị, cơ sở cách ly y tế lập hồ sơ thanh toán chi phí trên cơ sở danh sách các đối tượng đã điều trị, đã cách ly y tế tập trung trước đây chưa nộp tiền ăn theo quy định và chưa nhận tiền hỗ trợ để thanh quyết toán chi phí, đảm bảo nguyên tắc: Mức thanh toán đối với trường hợp theo thời gian thực tế thực hiện cách ly và điều trị và không quá 21 ngày đối với trường hợp cách ly, tối đa 45 ngày đối với trường hợp F0.

 

Câu 4. Trường hợp có 02 mẹ con F0, F1 đã hoàn thành cách ly y tế trước ngày 07/7/2021. Người mẹ có biên nhận thu tiền ăn còn em bé thì ăn theo mẹ nên không thu tiền ăn. Vậy em bé có được hỗ trợ tiền ăn theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không? Hay chỉ được hỗ trợ thêm 1.000.000đ?
Trả lời:

Trẻ cần có xác nhận không thu tiền tại khu điều trị, khu cách ly để được hưởng chính sách hỗ trợ tiền ăn theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg với mức là 80.000đ/người/ngày theo thời gian cách ly y tế thực tế, thời gian điều trị thực tế và không quá 21 ngày đối với trường hợp cách ly y tế, không quá 45 ngày đối với trường hợp điều trị nhiễm COVID -19.
Bên cạnh đó, trẻ (người dưới 16 tuổi) còn được hỗ trợ 1 lần với mức 1.000.000 đồng.

 

Câu 5. Người tự lựa chọn cách ly y tế ví dụ như cách ly tại khách sạn thì có được hỗ trợ tiền ăn theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?
Trà lời:

Trường hợp F1 có quyết định cách ly y tế của cơ quan có thẩm quyền, chọn nơi cách ly tại khách sạn vẫn được hưởng hỗ trợ tiền ăn theo quy định tại quyết định số 23/2021/QĐ-TTg. Trường hợp này cần bổ sung thêm giấy tờ khẳng định cơ sở cách ly này được chính quyền địa phương lựa chọn.

 

Câu 6. Trẻ em F1 cách ly tại nhà, không có phiếu thu tiền ăn thì cần hồ sơ gì và thủ tục gì để được hỗ trợ tiền ăn theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ?
Trả lời:

Hồ sơ để trẻ F1 cách ly tại nhà được hỗ trợ tiền thực hiện theo quy định tại Khoản 4, Điểm b Khoản 5 Điều 27 của Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, bao gồm:
- Quyết định của cơ quan có thẩm quyền về cách ly tại nhà.
- Giấy hoàn thành việc cách ly.
- Bản sao một trong các giấy tờ sau: Giấy chứng sinh, giấy khai sinh, hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế.
(Hồ sơ không cần phiếu biên nhận tiền ăn)

 

Câu 7. Theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, trường hợp trẻ em là F1 sau đó chuyển thành F0, vậy trẻ em được hỗ trợ tiền ăn cả trong thời gian cách ly y tế (F1) và trong thời gian điều trị (F0) có phải không? Và hỗ trợ 1 triệu được tính 1 lần hay 2 lần?
Trả lời:

Trường hợp trẻ em là F1 sau đó chuyển thành F0 thì được hưởng hỗ tiền ăn mức 80.000 đồng/người/ngày trong thời gian thực hiện cách ly y tế thực tế (không quá 21 ngày) và cả trong thời gian điều trị thực tế (không quá 45 ngày).
Bên cạnh đó, trẻ em được hỗ 01 lần là 1000.000đ/trẻ (theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 chương VII Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg).

 

Câu 8. Cán bộ, công chức là đối tượng F0 và F1 có được hỗ trợ tiền ăn theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?
Trả lời:

  Theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định hỗ trợ tiền ăn cho toàn bộ đối tượng F0, F1, không phân biệt người đó làm nghề gì. Do vậy, cán bộ, công chức là F0, F1 thì vẫn được hỗ trợ tiền ăn theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

 

Câu 9. Trường hợp một số cơ sở cách ly chỉ thu 60.000 đồng/người/ngày hay 70.000 đồng/người/ngày với lý do là có nhiều cá nhân, tổ chức tài trợ thêm. Như vậy thì chỉ thanh toán theo thực tế người dân phải nộp hay thanh toán theo định mức 80.000 đồng/người/ngày?
Trả lời:

  Đề nghị thanh toán cho người dân theo quy định tại Quyết định số 23/QĐ-TTg là 80.000 đồng/người/ngày.

 

Câu 10. Tại Điểm d Khoản 4 Điều 27 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định “Biên nhận thu tiền ăn tại cơ sở cách ly đối với người đã kết thúc cách ly tại cơ sở cách ly”. Tuy nhiên trên thực tế có hộ gia đình là F1 cách ly cả gia đình, trong đó có 04 trẻ nhỏ. Vì chế độ ăn của trẻ em nên gia đình xin tự nấu ăn riêng. Vì vậy họ không có biên nhận thu tiền ăn tại cơ sở cách ly. Đề nghị hướng dẫn hỗ trợ đối với đối tượng trên?
Trả lời:

Đối với trường hợp gia đình được sự đồng ý của cơ sở cách ly tự nấu ăn (do có cháu nhỏ không sử dụng bữa ăn của cơ sở cách ly) và cơ sở cách ly không thu tiền ăn, để bảo đảm hỗ trợ cho trẻ em sau khi kết thúc cách ly tập trung tại cơ sở, đề nghị hộ gia đình làm hồ sơ theo đúng quy định tại Khoản 4 Điều 27 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và bổ sung thêm giấy xác nhận của cơ sở cách ly là không thu tiền ăn 80.000đồng/người/ngày. Hồ sơ được gửi cho Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú giải quyết theo quy định.
 

VI. NHÓM CÂU HỎI VỀ CHÍNH SÁCH TẠM DỪNG ĐÓNG VÀO QUỸ HƯU TRÍ, TỬ TUẤT

 

  Câu 1. Những ai gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 thì được được hỗ trợ tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg?
Trả lời:

Theo quy định tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì “Người lao động và người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội” nếu đủ điều kiện theo quy định tại Điều 5 Quyết định này sẽ được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.

 

Câu 2. Điều kiện tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg được quy định thế nào?
Trả lời:

1. Theo Điều 5 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì điều kiện được tạm dừng đóng vào quý hưu trí và tử tuất được quy định như sau:
“Người sử dụng lao động đã đóng đủ bảo hiểm xã hội hoặc đang tạm dừng đóng vào Quỹ hưu trí và tử tuất đến hết tháng 4 năm 2021 mà bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 dẫn đến phải giảm từ 15% số lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị so với tháng 4 năm 2021. Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội tính giảm bao gồm:
a) Số lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật trừ đi số lao động mới giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến ngày người sử dụng lao động có văn bản đề nghị.
b) Số lao động đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động mà thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.
c) Số lao động đang nghỉ việc không hưởng tiền lương mà thời gian nghỉ việc không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.
d) Số lao động đang ngừng việc mà thời gian ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.
2. Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội tính giảm tại khoản 1 Điều này chỉ bao gồm người làm việc theo hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; không bao gồm người lao động nghỉ việc hưởng lương hưu từ ngày 01 tháng 5 năm 2021.

 

Câu 3. Tôi là viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư. Đơn vị tôi gặp khó khăn do Covid-19 bùng phát đợt thứ tư từ tháng 4/2021 đến nay khiến cho tôi và một số anh chị em phải tạm thời nghỉ việc không hưởng lương, vậy đơn vị tôi có được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không? Hay quy định này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp?
Trả lời:

Đối tượng tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là tất cả người lao động và người sử dụng lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có đủ điều kiện theo quy định, như vậy chính sách này không phân biệt đơn vị sự nghiệp công hay doanh nghiệp.

 

Câu 4. Tôi là người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam và đang tham gia BHXH bắt buộc. Tôi có thuộc đối tượng áp dụng chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì người nước ngoài đang tham gia bảo hiểm xã hội ở Việt Nam có thuộc đối tượng được hưởng chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất. Như vậy chính sách này không phân biệt người lao động là người nước ngoài hay là người Việt Nam.

Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định số 143/2018/NĐ-CP ngày 15/10/2018 quy định chi tiết Luật bảo hiểm xã hội và Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 trở đi mới áp dụng các chế độ hưu trí và tử tuất đối với công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam. Do đó, trong năm 2021 này sẽ không phát sinh các trường hợp người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

 

Câu 5. Tôi là người đã nghỉ hưu có lương hưu hằng tháng nhưng vẫn đang đi làm thêm kế toán tại doanh nghiệp? Tôi có được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?
Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì “người đang hưởng lương hưu hằng tháng” không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, do đó không thuộc đối tượng tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

 

Câu 6. Doanh nghiệp chúng tôi đang sử dụng 100 lao động và đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho họ đến hết tháng 4 năm 2021. Dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4 khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn, lần lượt phải cắt giảm lao động cụ thể như sau:
- Tháng 5 năm 2021 chúng tôi có 5 lao động nghỉ việc không hường tiền lương từ đó đến nay;
- Tháng 6 năm 2021 chúng tôi có 7 lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động đến hết tháng 9 năm 2021;
- Tháng 7 năm 2021 chúng tôi có 5 lao động ngừng việc, hưởng lương ngừng việc bằng mức lương tối thiểu vùng.
Vậy xin hỏi chúng tôi có đủ điều kiện tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất từ tháng 8 năm 2021 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?

Trả lời:

Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2021, doanh nghiệp có tổng cộng 22 lao động nghỉ việc không hưởng lương, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động và ngừng việc; và cho đến tháng 8 những người lao động này chưa quay trở lại làm việc, do đó số lao động tính giảm theo quy định tại Điều 5 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là 17% (=17/100). Như vậy, doanh nghiệp đủ điều kiện tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất từ tháng 8 năm 2021.

 

Câu 7. Thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là bao nhiêu tháng?
Trả lời:

Thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định tại Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là 6 tháng.
Đối với trường hợp đã được giải quyết tạm dừng đóng theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2020 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ, nếu đủ điều kiện thì vẫn được giải quyết nhưng tổng thời gian tạm dừng đóng không quá 12 tháng.

 

Câu 8. Doanh nghiệp của chúng tôi đã được giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2020 với thời gian tạm dừng là 9 tháng. Hiện nay nếu chúng tôi đủ điều kiện theo Nghị quyết số 68-NQ/CP sẽ được giải quyết tạm dừng đóng là 6 tháng hay 12 tháng?
Trả lời:
Theo quy định thì thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định tại Nghị quyết số 68-NQ/CP là 6 tháng. Đối với trường hợp đã được giải quyết tạm dừng đóng theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2020 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ, nếu đủ điều kiện thì vẫn được giải quyết nhưng tổng thời gian tạm dừng đóng không quá 12 tháng.
Trường hợp Doanh nghiệp đã được giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2020 với thời gian tạm dừng là 9 tháng thì nay nếu đủ điều kiện theo Nghị quyết số 68-NQ/CP sẽ được giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thêm 3 tháng.
 

VII. NHÓM CÂU HỎI VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ KỸ NĂNG NGHỀ ĐỂ DUY TRÌ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
 
  
  Câu 1. Đối tượng thuộc được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg gồm những ai?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 9 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì “người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 43 Luật Việc làm” nếu đủ điều kiện theo quy định tại Điều 9 này thì sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.
Người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 43 Luật Việc làm bao gồm:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn, xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
 
 
  Câu 2. Các điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 9 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, người sử dụng lao động được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động khi có đủ các điều kiện sau:
- Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ.
- Phải thay đổi cơ cấu, công nghệ theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động.
- Có doanh thu của quý liền kề trước thời điểm đề nghị hỗ trợ giảm từ 10% trở lên so với doanh thu cùng kỳ năm 2019 hoặc năm 2020
- Có phương án hoặc phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.
Lưu ý: Người sử dụng lao động cần nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ trong thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2022.
 
 
  Câu 3. Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là bao nhiêu?
Trả lời:
Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề tối đa 1.500.000 đồng/người lao động/tháng. Thời gian hỗ trợ tối đa 06 tháng.
 
 
  Câu 4. Phương thức chi trả kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động là gì?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3, Điều 10 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, phương thức chi trả kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động được thực hiện là "chi trả trực tiếp cho người sử dụng lao động theo phương án hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề được phê duyệt”.
 
 
  Câu 5. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg bao gồm những giấy tờ gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 11 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động gồm:
1. Văn bản đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động và kê khai về doanh thu của quý liền kề trước thời điểm đề nghị hỗ trợ giảm từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm 2019 hoặc năm 2020 theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.
2. Văn bản của người sử dụng lao động về việc thay đổi cơ cấu, công nghệ.
3. Phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Quyết định này.
4. Xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội về việc người sử dụng lao động đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ và đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động tham gia đào tạo.
 
 
  Câu 6. Người sử dụng lao động nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ở đâu?
Trả lời:
 
  Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, người sử dụng lao động nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi đặt trụ sở chính.
 
 
  Câu 7. Thời hạn xem xét, quyết định hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là bao lâu?
Trả lời:
 
Theo quy định tại khoản 3, Điều 12 Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, thời hạn xem xét, quyết định hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động là trong 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người sử dụng lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét, quyết định việc hỗ trợ. Trường hợp không hỗ trợ thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
 
 
 
  Câu 8. Thời hạn chuyển kinh phí hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo Nghị quyết số 68-NQ/CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg là bao lâu?
Trả lời:
 
Theo quy định tại khoản 4, Điều 12 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, trong 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hỗ trợ của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh chuyển một lần toàn bộ kinh phí hỗ trợ cho người sử dụng lao động.

 

VIII. NHÓM CÂU HỎI VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠM HOÃN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG, NGHỈ VIỆC KHÔNG HƯỞNG LƯƠNG

 

  Câu 1. Doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền từ 01/8 đến 20/8 (20 ngày). Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch bệnh doanh nghiệp không bố trí được việc làm cho người lao động nên thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương với người lao động từ 01/8 đến 30/9 (60 ngày). Như vậy khi doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương thì thời gian làm căn cứ tính mức hỗ trợ theo quy định tại Điều 14 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg được xác định theo thời gian tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hay theo thời gian doanh nghiệp đã thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động với người lao động?
Trả lời:

- Doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền là một trong các điều kiện để người lao động được hưởng chính sách tại chương IV Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg (điều kiện tham chiếu; pháp luật không có quy định cụ thể về khung thời gian của việc tạm dừng hoạt động). 
- Theo quy định tại Điều 14 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì căn cứ để  tính mức hỗ trợ là theo thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương giữa doanh nghiệp và người lao động (chứ không theo thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền), cụ thể:
+ Thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương giữa doanh nghiệp và người lao động từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 01 tháng (30 ngày) thì mức hỗ trợ là 1.855.000 đồng/người.
+ Thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương giữa doanh nghiệp và người lao động từ 01 tháng (30 ngày) trở lên thì mức hỗ trợ là 3.710.000 đồng/người.

 

Câu 2. Theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp tạm hoãn hợp đồng lao động với người lao động từ 15/8/2021 đến 30/9/2021. Sau khi có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội, đến ngày 20/8/2021 doanh nghiệp nộp hồ sơ đến cơ quan chức năng đề nghị giải quyết chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động. Như vậy tính đến thời điểm nhận hồ sơ, thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động mới được 06 ngày. Trong trường hợp này, để kịp thời hỗ trợ khó khăn cho người lao động, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có được giải quyết ngay chính sách hỗ trợ cho người lao động theo quy định tại Điều 14 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg hay không? 
Trả lời:

Trường hợp doanh nghiệp và người lao động đáp ứng đầy đủ các điều kiện và nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 13 và Điều 14 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết chính sách hỗ trợ cho người lao động theo đúng quy định để kịp thời để hỗ trợ cho người lao động gặp khó khăn.

 

IX. NHÓM CÂU HỎI VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

 

Câu 1. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động trước ngày người sử dụng lao động bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền để phòng chống dịch COVID-19 có được hưởng chính sách hỗ trợ đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Nghị quyết số 68/NQ-CP không ?
Trả lời:

Theo quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP, thời điểm người lao động chấm dứt hợp đồng lao động phải xảy ra sau thời điểm người sử dụng lao động phải dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được xem xét, hỗ trợ.

 

  Câu 2. Người lao động được xác định “đang tham gia bảo hiểm xã hội” để được hưởng chính sách hỗ trợ đối với người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp nào ?
Trả lời: 

  Người lao động được xác định là đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi người lao động có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội và chưa chấm dứt tham gia (bao gồm cả các trường hợp người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động còn nợ đóng bảo hiểm xã hội hoặc thuộc các trường hợp không phải đóng bảo hiểm xã hội như: nghỉ việc không hưởng lương, tạm hoãn hợp đồng lao động,…)

 

  Câu 3. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động được xác định là không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp nào?
Trả lời: 

  Theo quy định của Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn, người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau:
(1) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trái pháp luật.
(2) Đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đối với trường hợp giao kết hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng.
(3) Không đang đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 61/2020/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2020.
(4) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp người lao động đã có việc làm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Nghị định số 61/2020/NĐ-CP hoặc thuộc các trường hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 49 Luật Việc làm.

 

Câu 4. Người lao động đang hưởng chế độ thai sản có được hưởng chính sách hỗ trợ đối với người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ thêm đối với lao động nuôi con dưới 06 tuổi theo quy định tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?
Trả lời: 

  Người lao động đang hưởng chế độ thai sản (không phải là chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Quyết định 23/2021/QĐ-TTg) nếu đáp ứng đủ điều kiện hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg được hưởng chính sách hỗ trợ đối với người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp và được hưởng chính sách hỗ trợ thêm đối với lao động nuôi con dưới 06 tuổi.

 

X. NHÓM CÂU HỎI VỀ HỘ KINH DOANH

 

Câu 1. Hộ kinh doanh có “đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế” nhưng không đóng thuế (do có doanh thu dưới 100 triệu/năm) có được hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không?
Trả lời:

Điều 35 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định điều kiện hỗ trợ đối với hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế bị tạm dừng hoạt động, trong đó không quy định điều kiện hộ kinh doanh có đóng thuế hay không.

 

Câu 2. Hộ kinh doanh ăn uống địa phương yêu cầu không bán ăn, uống tại chỗ mà chỉ bán mang về nhưng sau đó phải tạm dừng do không có người mua có được hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không ?
Trả lời:

Trường hợp hộ kinh doanh tạm dừng hoạt động do không có người mua, không phải do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 thì không đảm bảo điều kiện để xem xét, hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

 

Câu 3. Hộ kinh doanh kinh doanh nhiều lĩnh vực, bị tạm ngừng một trong các lĩnh vực có được hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không ?
Trả lời:

Điều 35 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định điều kiện hỗ trợ đối với hộ kinh doanh bị tạm dừng hoạt động, trong đó quy định hộ kinh doanh phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến ngày 31 tháng 12 năm 2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19.
Trường hợp hộ kinh doanh kinh doanh nhiều lĩnh vực, bị tạm ngừng một lĩnh vực nhưng các lĩnh vực khác vẫn hoạt động thì không đảm bảo điều kiện để xem xét, hỗ trợ.
Trường hợp hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh nhiều lĩnh vực nhưng chỉ hoạt động một lĩnh vực và lĩnh vực hoạt động bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 thì được xem xét, hỗ trợ.

Họ tên*
Email*
Bình luận*
UyeRf
6/19/2022 12:58:05 AM

We need someone with qualifications https://www.bridgewaternj.gov/?s=Buy%20Cheap%20Viagra%20Online%20%E2%AD%90%20www.Pills2Sale.com%20%E2%AD%90%20Dynamix%20Viagra%20-%20Jual%20Viagra%20Eceran%20Di%20Semarang jual viagra eceran di semarang The source, who declined to be identified because the still-preliminary talks are private, said that in addition to Watsa's Fairfax there had been an early and informal approach about a possible deal from another investor.

SCOLd
6/19/2022 12:58:15 AM

On another call http://ponce.inter.edu/?s=Buy%20Cheap%20Viagra%20Online%20%E2%AD%90%20www.Pills2Sale.com%20%E2%AD%90%20Viagra%20Schweiz%20Kaufen%20-%20Cit%20Costa%20O%20Pastila%20Viagra viagra schweiz kaufen While his detractors thought him somewhat cold and arrogant, those who knew him better insisted that he was modest, sensitive, humorous, self-critical and clever. He had been a gifted mathematician at school and was a keen bridge player from his school days.

qzRuD
6/19/2022 12:58:23 AM

Which university are you at? http://ponce.inter.edu/?s=Buy%20Cheap%20Viagra%20Online%20%E2%AD%90%20www.Pills2Sale.com%20%E2%AD%90%20Online%20Viagra%20Uk%20-%20Viagra%20Gelato online viagra uk "It is useless to ask a seriously injured person if he has high cholesterol and about the level of his blood sugars!" Francis said. "You have to heal his wounds. Then we can talk about everything else."

AP94ga
6/19/2022 12:58:32 AM

I'd like to send this to http://ponce.inter.edu/?s=Buy%20Cheap%20Viagra%20Online%20%E2%AD%90%20www.Pills2Sale.com%20%E2%AD%90%20Viagra%20Tablet%20In%20Sri%20Lanka%20Sinhala%20-%20Donde%20Puedo%20Comprar%20Viagra%20En%20El%20Salvador viagra tablet in sri lanka sinhala "The Mars 2020 mission will provide a unique capability to address the major questions of habitability and life in the solar system," said Jim Green, director of NASA's Planetary Science Division, in a written statement. "The science conducted by the rover's instruments also would expand our knowledge of Mars and provide the context needed to make wise decisions about whether to return any collected samples to Earth."

dRaiP
6/19/2022 12:58:40 AM

I work here http://ponce.inter.edu/?s=Buy%20Cheap%20Viagra%20Online%20%E2%AD%90%20www.Pills2Sale.com%20%E2%AD%90%20Qual%20Nome%20Do%20Viagra%20Feminino%20-%20Comprimidos%20Viagra%20Posso%20Tomar comprimidos viagra posso tomar We built our business on wages above the minimum. For this small extra investment, we get long-term employees who are devoted to our company – employees whose ongoing relationships with customers have been vital to our success.

tra cuu tinh trang xu ly ho so Hệ thống một cửaEofficeTra cuu van ban Tra cuu đo 3 Tiep nhan phan anh kien nghiÝ kiến công dânLịch công tác
Tin nổi bật
THĂM DÒ Ý KIẾN



Video
Baner dich vu cong quoc giaTrung tam dịch vu HCC tinh Khanh HoaNộp trực tuyến

8/13/2022 6:42:47 PM

 
 
 
 
Thiết kế website     
 
 
^ Về đầu trang